fbpx

Nguồn gốc Karate tại Việt Nam được hình thành như thế nào?

Tên gọi Karate và cách viết 空手 bắt đầu từ thập niên 1960. Giống như nhiều môn khác ở Nhật Bản (Trà đạo, Thư đạo, Cung đạo, Kiếm đạo, Côn đạo, Hoa đạo), karate được gắn thêm vĩ tố “Đạo”, phát âm trong tiếng Nhật là “DO” (viết là 道). Vì thế, có tên Karate- Do. Vậy tại Việt Nam, nguồn gốc Karate đã được hình thành và phát triển như thế nào? Cùng tìm hiểu trong bài viết này nhé. 

Nguồn gốc Karate được hình thành như thế nào?

Nguồn gốc Karate được hình thành như thế nào?

Nguồn gốc Karate tại Việt Nam được hình thành và phát triển như thế nào?

Ở Việt Nam môn Karate được phát triển mạnh mẽ do tính khoa học và hiệu quả tập luyện của nó cộng với chủ nghĩa anh hùng dân tộc và tinh thần thượng võ của người dân Việt Nam.

Ở thành phố Hồ Chí Minh phát triển hệ  phái Kyokyushinkar do võ sư Hồ Cẩm Ngạc truyền bá vào khoảng từ năm 1950. Ở Huế phát triển hệ phái Goju do một người Nhật tên là Cho ji Suzuki ở lại nước ta sinh sống sau năm 1945 và lấy tên Việt là Phạm Văn Phúc giảng dạy.

Từ miền Nam và qua một số học giả nước ngoài, nguồn gốc Karate cũng đã được du nhập và Hà Nội, nhưng chỉ sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất vào năm 1975, Karate mới thực sự được truyền bá và phát triển rộng khắp. Được sự quan tâm đầu tư của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và sự khuyến khích của các Sở TDTT nên đến năm 1980 đã thành lập được một số các câu lạc bộ tập luyện.

Năm 1984, một số giải thi đấu Karate-do đã được tổ chức và năm 1987 hội thảo Karate-do tại Huế đã thống nhất sử dụng Luật thi đấu Karate-do. Tháng 7 năm 1988 giải Huế hữu nghị được tổ chức và đến tháng 6 năm 1989 giải hữu nghị Hà Nội cũng đã được tổ chức.

Tháng 7 năm 1989 Sở Thể dục Thể thao Hà Nội và liên đoàn Karate-do Hà Nội đã mời thầy Yaramora huyền đai đệ lục đẳng sang huấn luyện chính thức. Tháng 8 năm 1991 Giải vô địch Karate-do toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức. Bắt đầu từ năm 1995 Tổng cục Thể dục Thể thao (nay là Ủy ban TDTT) đã tổ chức thi đấu và tiến hành phong cấp (từ cấp I đến kiện tướng) cho các vận động viên Karate-do trong các giải vô địch cũng như giải trẻ toàn quốc.

Trong những năm gần đây Karate-do Việt Nam đã không ngừng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng luyện tập và điều này đã được khẳng định bằng các tấm huy chương mà các tuyển thủ Karate-do Việt Nam đã mang về từ các cuộc tranh tài Quốc tế cũng như khu vực…

Các kỹ thuật thường được sử dụng trong Karate là gì?

Trong Karate còn có các kỹ thuật đấm móc, các kỹ thuật đấm đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã và những miếng đánh vào chỗ hiểm. Để tăng sức cho các động tác tấn đỡ, Karate sử dụng kỹ thuật xoay hông hay kỹ thuật kime, để tập trung lực năng lượng toàn cơ thể vào thời điểm tác động của cú đánh.

Trước đây, khi mới chỉ giới hạn ở Okinawa, môn võ này được gọi là Totei theo ngôn ngữ ở đây, và được viết là 唐手. Vào thời kỳ Minh Trị, môn võ này bắt đầu được truyền vào lãnh thổ chính của Nhật Bản, thì chữ 唐手 được phát âm theo tiếng Nhật là Karate và giữ nguyên cách viết này.

Tuy nhiên, do 唐手 thường bị hiểu không đúng là “võ Tàu”, cộng thêm việc môn võ này thường chỉ dùng tay không để chiến đấu, nên người Nhật bắt đầu từ thay thế chữ 唐 bằng một chữ khác có cùng cách phát âm và mang nghĩa “KHÔNG”, đó là 空.

Karate gồm những màu đai nào?

Màu đai của Karate được người ta liên tưởng đến một chuỗi sự sống của một cái cây: Đai trắng tượng trưng cho mầm sống, dành cho những người mới nhập môn, tiếp đến là đai vàng tượng trưng cho ánh sáng mặt trời, đai xanh tượng trưng cho sự phát triển, hi vọng vươn lên của cây và đai đen Karate là đỉnh cao của võ thuật.

Mỗi hệ thống đai võ Karate đều có biểu hiện ở những cấp độ khác nhau:

  • Đai Trắng (White) – Dùng cho cấp 10 và cấp 9
  • Đai Vàng (Yellow) – Dùng cho cấp 8
  • Đai Xanh da trời nhạt (Light Blue) – Dùng cho cấp 7
  • Đai Xanh lá (Green) – Dùng cho cấp 6
  • Đai Xanh da trời đậm (Dark Blue) – Dùng cho cấp 5 và cấp 4
  • Đai Nâu (Brown) – Dùng cho cấp 3,2,1

Xem thêm: Thế Giới Võ Thuật; Kết nối niềm đam mê võ thuật Việt Nam

Ý kiến của bạn

Comments are closed.